Điều trị mất ngủ

Mất ngủ (insomnia) hay khó ngủ (sleeping difficulties) là một chứng bệnh gây ảnh hưởng đến đời sống của nhiều người.  Những người mắc các rối loạn này thường than phiền về sự không thoải mái khi thức dậy như khó vào giấc ngủ, ngủ không sâu, tỉnh giấc sớm, ác mộng, ban ngày buồn ngủ nhưng không ngủ được… từ đó dẫn đến mệt mỏi vào ban ngày và suy giảm chức năng cơ thể và tâm thần là những đặc điểm chính thường được người bệnh chia sẻ trong tất cả các loại rối loạn giấc ngủ.

DỊCH TỄ HỌC MẤT NGỦ.

WikipediA (2026)

Tỉ lệ mất ngủ có thể từ 4-48%. Khoảng 33% dân số bị một trong nhiều triệu chứng của mất ngủ, 15% bị buồn ngủ vào ban ngày nhưng không ngủ được, 18% không thỏa mãn với giấc ngủ, 30% có liên quan tới các rối loạn tâm thần

Nữ>nam nhất là ở tuổi tiền mạn kinh có lẽ do những bệnh liên quan hơn là do thiếu hocmon

Càng lớn tuổi nguy cơ mất ngủ càng cao

DSM-5 (2013)

Tỉ lệ mắc trong dân số khoảng 1/3 người trưởng thành, 10% – 15% biểu hiện kèm theo vào ban ngày và 6% – 10% có các triệu chứng phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ. Mất ngủ chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong các loại rối loạn giấc ngủ. Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu khoảng 10% – 20% các cá nhân than phiền có các biểu hiện của mất ngủ. Tỉ lệ than phiền mất ngủ ở phụ nữ cao hơn nam giới (tỉ lệ 1,44 nữ : 1 nam giới). Mặc dù mất ngủ có thể là triệu chứng hoặc một rối loạn độc lập khác, nó phần lớn được nhìn nhận như là một rối loạn đồng diễn với các rối loạn cơ thể hoặc tâm thần khác. Hiện tại, 40% – 50% các cá nhân bị mất ngủ cũng có biểu hiện đồng diễn với các rối loạn tâm thần.

Mất ngủ có thể xẩy ra vào bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sống, nhưng khởi đầu thường phổ biến hơn ở người trưởng thành trẻ tuổi, ít gặp hơn ở trẻ em và thanh thiếu niên. Ở phụ nữ mất ngủ ban đầu có thể xẩy ra trong thời kỳ mạn kinh và dai dẳng thậm chí ngay cả khi các triệu chứng mạn kinh đã hết.

Mất ngủ có thể tùy theo tình huống, ngắn, dai dẳng hoặc tái diễn

Các tác nhân gây mất ngủ có nhiều và tùy theo từng cá thể: đau dai dẳng, stress tâm lý, bệnh cơ thể, K, hoặc các rối loạn tâm thần khác như lo âu, trầm cảm , loạn thần, động kinh, Parkinson, Alzheimer…

Than phiền mất ngủ thường gặp ở người trung niên hoặc người già. Loại triệu chứng mất ngủ thay đổi theo lứa tuổi, ví dụ khó vào giấc ngủ thường gặp hơn ở người trẻ tuổi và khó duy trì giấc ngủ thường gặp hơn ở người trung niên hoặc người cao tuổi.

Tỉ lệ mất ngủ tăng ở người cao tuổi thường liên quan tới mắc các bệnh cơ thể ở người cao tuổi.

Các vấn đề con người, xã hội và công việc có thể bị ảnh hưởng bởi mất ngủ chẳng hạn như dễ cáu giận, mất tập trung. Giảm chú ý có thể liên quan tới tai nạn giao thông, nghề nghiệp.Mất ngủ dai dẳng cũng kết hợp với hậu quả lâu dài như làm tăng nguy cơ trầm cảm, tăng HA, nhồi máu cơ tim, giảm hiệu quả công việc, giảm chất lượng cuộc sống, tăng gánh nặng kinh tế.

 

 

Tính chất đồng bệnh lý: mất ngủ là một biểu hiện đồng bệnh lý với nhiều bệnh cơ thể như tiểu đường, bệnh tim, mạch vành, bệnh phổi tắc nghẽn, viêm khớp, đau cơ, và các đau mạn tính khác. Mất ngủ làm tăng nguy cơ bệnh cơ thể và ngược lại bệnh cơ thể làm tăng nguy cơ mất ngủ.

Các cá nhân bị mất ngủ thường có các rối loạn đồng bệnh lý với rối loạn tâm thần như: RL liên quan stress, TTPL, rối loạn lưỡng cực, trầm cảm, lo âu, loạn thần, lạm dụng chất…

CHẨN ĐOÁN                  

  1. Tiêu chuẩn chẩn đoán mất ngủ theo DSM-5.
  2. Phàn nàn chủ yếu về số lượng hoặc chất lượng của giấc ngủ kết hợp với có ít nhất một trong số các triệu chứng dưới đây:
  3. Khó khăn khi vào giấc ngủ (ở trẻ em, có thể biểu hiện khó khăn khi vào giấc ngủ khi không có sự can thiệp của người chăm sóc).
  4. Khó khăn duy trì giấc ngủ như việc tỉnh giấc thường xuyên hoặc khó ngủ trở lại (ở trẻ em, có thể biểu hiện khó ngủ trở lại khi không có sự can thiệp của người chăm sóc).
  5. Tỉnh giấc sớm và không thể ngủ trở lại.
  6. Rối loạn giấc ngủ gây ra các dấu hiệu lâm sàng như đau khổ hoặc suy giảm đáng kể các chức năng xã hội, nghề nghiệp, giáo dục, học tập, hành vi hoặc các chức năng quan trọng khác.
  7. Khó ngủ xảy ra ít nhất 3 đêm mỗi tuần.
  8. Khó ngủ diễn ra trong ít nhất 3 tháng.
  9. Khó ngủ xảy ra mặc dù có đủ thời gian cho việc ngủ.
  10. Mất ngủ không được giải thích tốt hơn và không chỉ xảy ra trong giai đoạn bị rối loạn thức – ngủ khác (ví dụ: chứng ngủ rũ, rối loạn giấc ngủ liên quan đến hơi thở, rối loạn thức-ngủ nhịp sinh học, rối loạn ký sinh trùng).
  11. Mất ngủ không không phải do tác dụng sinh lý của một chất (ví dụ: lạm dụng ma túy, thuốc).
  12. Sự tồn tai các rối loạn tâm thần và bệnh cơ thể đồng diễn khác, không thể giải thích hợp lý cho sự phàn nàn chủ yếu của chứng mất ngủ.

Lưu ý: Mất ngủ cấp tính và ngắn hạn (nghĩa là: các triệu chứng kéo dài dưới 3 tháng nhưng đáp ứng tất cả các tiêu chí liên quan đến tần suất, cường độ, mức độ đau khổ và (hoặc) suy yếu) nên được chẩn đoán mất ngủ biệt định.

 

 

  1. Chẩn đoán phân biệt

Những biến đổi giấc ngủ bình thường: Thời gian ngủ bình thường có thể đa dạng giữa các cá nhân. Một số người ngủ ít (“người ngủ ngắn”) có thể lo lắng về thời gian ngủ của họ. Những người ngủ ngắn khác với những người với rối loạn mất ngủ ở chỗ thiếu sự khó ngủ hoặc không ngủ và do không có các triệu chứng ban ngày đặc trưng (ví dụ: mệt mỏi, khó tập trung, khó chịu). Tuy nhiên, một số người ngủ ngắn có thể mong muốn hoặc cố gắng ngủ trong khoảng thời gian dài hơn, và bằng cách kéo dài thời gian trên giường, có thể tạo ra kiểu ngủ giống như bị mất ngủ. Rối loạn mất ngủ lâm sàng cũng nên được phân biệt với những thay đổi giấc ngủ liên quan đến tuổi tác. Rối loạn mất ngủ phải được phân biệt với thiếu ngủ do không có thời điểm hay hoàn cảnh phù hợp, ví dụ: từ một trường hợp khẩn cấp hoặc từ nghĩa vụ chuyên môn hoặc gia đình buộc cá nhân phải tỉnh táo..

Mất ngủ do hoàn cảnh hoặc cấp tính: Mất ngủ do hoàn cảnh hoặc cấp tính là tình trạng kéo dài trong vài ngày hoặc vài tuần, thường liên quan đến các sự kiện cuộc sống hoặc với những thay đổi trong kế hoạch ngủ. Những triệu chứng mất ngủ cấp tính hay ngắn hạn có thể tạo nên căng thẳng nghiêm trọng và ảnh hưởng đến chức năng cá nhân, xã hội, và công việc. Khi những triệu chứng này trở nên thường xuyên đủ để đáp ứng các tiêu chí khác trừ thời hạn 3 tháng, một chẩn đoán về rối loạn mất ngủ điển hình khác hay mất ngủ không đặc trưng được đưa ra.

Rối loạn nhịp sinh học do trì hoãn giấc ngủ hoặc yêu cầu công việc: Những cá nhân với giai đoạn giấc ngủ bị trì hoãn và rối loạn sinh học vì các loại công việc, chỉ cho thấy rối loạn mất ngủ khi cố gắng ngủ vào những thời điểm bình thường, nhưng họ không cho thấy biểu hiện khó ngủ hay khó duy trì giấc ngủ, khi trên giường và thời gian tỉnh của họ bị trì hoãn và trùng với nhịp sinh học nội sinh của họ. Loại công việc khác với rối loạn mất ngủ bởi lịch sử của những thay đổi công việc gần nhất.

Hội chứng chân không ngừng động: Hội chứng này thường tạo ra những khó khăn bắt đầu và duy trì giấc ngủ. Tuy nhiên, sự thôi thúc di chuyển chân và bất kỳ cảm giác khó chịu của chân đi kèm và những đặc điểm phân biệt bệnh này với rối loạn mất ngủ.

Rối loạn giấc ngủ liên quan đến hơi thở: Đa số những người với rối loạn giấc ngủ liên quan đến hơi thở có tiền sử ngáy to, ngưng thở khi ngủ, và sự buôn ngủ quá mức vào ban ngày. Tuy nhiên, có 50% cá nhân bị ngưng thở khi ngủ cũng có thể báo cáo triệu chứng mất ngủ, một đặc điểm thường phổ biến hơn ở phụ nữ và những người lớn tuổi.

 

 

Chứng ngủ rũ: Chứng ngủ rũ có thể gây ra những phàn nàn về mất ngủ nhưng được phân biệt với rối loạn mất ngủ bởi những triệu chứng nổi bật của buồn ngủ quá mức vào ban ngày, mất sức mạnh cơ bắp đột ngột, tê liệt khi ngủ và ảo giác liên quan đến giấc ngủ.

Giả mất ngủ: Giả mất ngủ được đặc trưng bởi sự phàn nàn về những hành vi bất thường hay những sự kiện trong khi ngủ có thể dẫn đến thức giấc gián đoạn hay khó khăn ngủ trở lại. Tuy nhiên, những sự kiện hành vi này, thay vì rối loạn mất ngủ, chiếm tổng quan bức tranh lâm sàng.

Rối loạn giấc ngủ hoặc kiểu mất ngủ do thuốc hoặc chất: Rối loạn giấc ngủ do chất, loại mất ngủ, được phân biệt với rối loạn mất ngủ do chất (ví dụ: lạm dụng chất, thuốc, hay tiếp xúc với chất độc) được đánh giá có liên quan về mặt căn nguyên với chứng mất ngủ. Ví dụ, mất ngủ chỉ xảy ra trong bối cảnh tiêu thụ cà phê nặng sẽ được chẩn đoán là rối loạn giấc ngủ do cafeine, loại mất ngủ, khởi phát trong khi ngộ độc.

 

NGUYÊN NHÂN MẤT NGỦ

  • Mất ngủ do căn nguyên tâm lý: các rối loạn liên quan tới stress, rối loạn lo âu toàn thể, rối loạn ám ảnh cưỡng bức, rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo sợ ám ảnh, rối loạn phân ly….
  • Mất ngủ do các bệnh cơ thể: bệnh tim mạch (suy tim, HA, bệnh mạch vành…), tiểu đường, cường giáp, suy giáp, bệnh phổi tắc nghẽn, hen phế quản, viêm khớp, luput ban đỏ hệ thống, ung bướu, sau phẫu thuật, nhiễm khuẩn, ký sinh trùng, vi rút, ghép tạng,…
  • Mất ngủ do các bệnh tâm thần: tâm thần phân liệt, các bệnh loạn thần khác, trầm cảm tái diễn, lo âu trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, trầm cảm sau sinh,…
  • Mất ngủ do các tổn thương thực thể ở não: viêm não, nhồi máu não, xuất huyết não, u não, thoái hóa não, Alzheimer, nhiễm trùng, nhiễm độc hệ thần kinh trung ương, động kinh,…
  • Mất ngủ liên quan tới sử dụng chất: rượu, cà phê, thuốc lá, các loại ma túy khác…

ĐIỀU TRỊ MẤT NGỦ

  1. Liệu pháp tâm lý: thư giãn luyện tập, thiền, yoga, CBT..: mất ngủ liên quan tới stress, các rối loạn căn nguyên tâm lý, có thể kết hợp với các thuốc ngủ trong giai đoạn đầu của bệnh.
  • Liệu pháp hóa dược: điều trị theo nguyên nhân gây mất ngủ
  • Do các bệnh cơ thể đồng diễn: sử dụng các thuốc gây ngủ ngắn ngày kết hợp với điều trị bệnh cơ thể liên quan
  • Do các rối loạn tâm thần đồng diễn: sử dụng các thuốc chống loạn thần, chống trầm cảm hoặc giải lo âu có tác dụng gây ngủ với hoặc không có thuốc ngủ kèm theo.
  • Do các bệnh cơ thể và tâm thần thực tổn: điều trị nguyên nhân gây bệnh chính kết hợp với các thuốc có tác dụng gây ngủ như thuốc ngủ, thuốc chống loạn thần có tác dụng gây ngủ liều thấp, thuốc chống trầm cảm, thuốc giải lo âu, thuốc chống parkinson, thuốc chống Alzheimer…

 

CÁC THUỐC GÂY NGỦ THƯỜNG ĐƯỢC SỦ DỤNG

  • Các thuốc gây ngủ họ benzodiazepine: Xanax (alprazolam) viên 0,25mg và 0,5mg, uống 0,25mg-0,5mg trước khi đi ngủ, không nên sử dụng kéo dài dễ gây lệ thuộc thuốc

Seduxen 5mg x 1-2 viên tối trước khi đi ngủ, không nên sử dụng kéo dài, liều cao dễ bị gây lệ thuộc thuốc.

Stilnox 10mg, uống 1 viên tối,không xử dụng kéo dài, dễ gây lệ thuộc

  • Thuốc gây ngủ Zolpidem: stilnox 10 mg, người lớn 1 viên/tối, người già ½ viên tối
  • Thuốc gây ngủ Zopiclon: drexler 7,5mg, uống 1 viên trước khi đi ngủ, không nên sử dụng kéo dài quá 4 tuần
  • Thuốc gây ngủ Eszopiclon: neuractine 2mg, uống 2mg – 3mg tối trước khi đi ngủ, người già 1mg – 2mg tối. Không kéo dài quá 3 tuần
  • Thuốc gây ngủ thế hệ mới: Lemborexant (dayvigo 5mg và 10mg). Liều dùng 5mg – 10mg/tối, ít nhất 7 tiếng trước khi thức dậy, thuốc có thể dung kéo dài, không gây lệ thuộc, không gây hội chứng cai khi ngừng thuốc. Người già khuyến cáo 5mg/tối
  • Các thuốc chống loạn thần có tác dụng gây ngủ: haloperidol, olanzapine, quetiapine, clozapine…(xem phần III, các phương pháp điều trị trong tâm thần học)
  • Các thuốc chống trầm cảm có tác dụng gây ngủ: amitryptiline, mirtazapine…(xem phần III, các phương pháp điều trị trong tâm thần học)

 

Tài liệu tham khảo

DSM-5, Rối loạn thức ngủ

WikipediA 2026, Dịch tễ học mất ngủ

Hướng dẫn sử dụng các thuốc gây ngủ của các công ty dược.

Bài viết liên quan